• Trang chủ
  • Bài viết nghiên cứu
  • ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1 BẰNG OSIMERTINIB Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN IV CÓ ĐỘT BIẾN EGFR DƯƠNG TÍNH TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU ĐÀ NẴNG
Bài báo nghiên cứu gốc

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1 BẰNG OSIMERTINIB Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ GIAI ĐOẠN IV CÓ ĐỘT BIẾN EGFR DƯƠNG TÍNH TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU ĐÀ NẴNG

EVALUATING THE EFFECTIVENESS OF FIRST – LINE TREATMENT WITH OSIMERTINIB IN STAGE IV NON – SMALL CELL LUNG CANCER PATIENTS WITH POSITIVE EGFR MUTATIONS AT DANANG ONCOLOGY HOSPITAL

https://doi.org/10.70755/vnjo.2025.81.2

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá hiệu quả điều trị bước 1 ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến EGFR dương tính tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang những bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến EGFR dương tính được điều trị bằng Osimertinib bước 1 tại bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng từ tháng 7/2020 đến tháng 6/2025.

Kết quả: Nghiên cứu ghi nhận được 41 trường hợp, với trung vị thời gian theo dõi 10,4 tháng (khoảng từ 7,0 – 18,0 tháng). Tuổi trung bình 63,3 ± 12,9. Tỷ lệ nữ/nam là 1,9. Đột biến EGFR tại exon 19 chiếm tỷ lệ nhiều hơn tại exon 21, với tỷ lệ 1,9. Bệnh nhân có di căn não chiếm 29,3%. Tỷ lệ đáp ứng khách quan của Osimertinib trong điều trị bước 1 là 80,5%, tỷ lệ kiểm soát bệnh là 95,1%. Trung vị thời gian sống thêm không bệnh tiến triển (PFS) là 16,3 ± 1,3 tháng. Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất khi điều trị bằng Osimertinib là ban da (39,0%), thiếu máu (26,8%), viêm quanh móng (22,0%), tiêu chảy (17,1%), viêm gan (14,6%), viêm niêm mạc miệng (9,8%), suy thận (2,4%) và giảm tiểu cầu (4,9%). Phần lớn các tác dụng không mong muốn này ở mức độ nhẹ, có 1 bệnh nhân phải giảm liều do tác dụng giảm tiểu cầu, chiếm 2,4%, không có bệnh nhân gián đoạn điều trị.

Kết luận: Osimertinib có hiệu quả cao và an toàn trong điều trị bước 1 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến EGFR.

Abstract

Objective: To evaluate the effectiveness of first-line treatment in stage IV non-small cell lung cancer patients who have positive EGFR mutation with Osimertinib.

Subjects and methods: A cross-sectional descriptive study of patients with EGFR mutation positive stage IV non-small cell lung cancer who were treated with Osimertinib at Da Nang Oncology Hospital from July 2020 to the end of June 2025.

Results: The study recorded 41 cases, with median follow-up time was 10,4 months (ranging from 7,0 to 18,0 months). Median age was 63,3 ± 12,9. Ratio of female/male was 1.9. EGFR mutation at exon 19 was more commom than in exon 21, with a ratio of 1,9. Patients with brain metastases was 29,3%. The objective response rate of Osimertinib in first-line treatment was 80,5%, disease control rate was 95,1%, the median progression-free survival (PFS) was 16,3 ± 1,3 months. The most common side effects of Osimertinib were rash (39,0%), anemia (26,8%), paronychia (22,0%), diarrhea (17,1%), hepatitis (14,6%), oral mucositis (9,8%), renal impairment (2,4%) and thrombocytopenia (4,9%). Most of side effects were mild and have one patient required a dose reduction due to thrombocytopenia (2,4%), no patient treatment interruption.

Conclusion: Osimertinib is highly effective and safe in the first-line treatment of stage IV non-small cell lung cancer with positive EGFR mutation.

Từ khóa

Ung thư phổi không tế bào nhỏ, đột biến EGFR, Osimertinib

Keywords

Non-small cell lung cancer, EGFR mutation, Osimertinib

Tài liệu tham khảo (References)

  1. Nguyễn Đình Đức, Đỗ Hùng Kiên, Trịnh Lê Huy, (2023), “Kết quả điều trị bước 1 ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn não có đột biến EGFR bằng osimertinib”, Tạp chí y học Việt Nam, tập 532, tr. 56-60.
  2. Đặng Văn Khiêm, Phương Ngọc Anh, Cấn Xuân Hạnh và CS, (2022), “Đánh giá kết quả điều trị bước 1 ung thư phổi giai đoạn IV bằng osimertinib bước 1 tại bệnh viện Phổi Trung Ương”, Tạp chí y học Việt Nam, tập 520, tr. 133-140.
  3. Nguyễn Thị Vân, Đỗ Anh Tú, Vũ Hồng Thăng, (2023), “Đánh giá kết quả điều trị bước 1 ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến EGFR bằng osimertinib”, Tạp chí y học Việt Nam, tập 531, tr. 378-382.
  4. Bray F., Laversanne M., Sung H., et al (2024), "Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries", CA Cancer J Clin. 74(3), pp. 229-263.
  5. Chewaskulyong B., Lee K. H. and Lee J. H. (2019), Osimertinib versus Standard of Care EGFR TKI as First-Line Treatment in Patients with EGFRm Advanced NSCLC: FLAURA Asian Subset. J Thorac Oncol.14(1):99-106.
    6. Lorenzi M., Ferro A., Cecere F., et al (2022), First-Line Osimertinib in Patients with EGFR-Mutant Advanced Non-Small Cell Lung Cancer: Outcome and Safety in the Real World: FLOWER Study. Oncologist. 27(2):87-e115.
  6. Soria J.C., Ohe Y., Vansteenkiste J., et al. (2018), Osimertinib in untreated EGFR-mutated advancednon-small-cell lung cancer. N Engl J Med. 378(2):113–25.
Bài viết trước
U TRUNG MẠC ÁC TÍNH MÀNG PHỔI TẠI BỆNH VIỆN PHẠM NGỌC THẠCH HỒI CỨU SAU 10 NĂM (2013-2023)
Bài viết tiếp
VAI TRÒ CỦA F18-FDG PET/CT TRONG ĐÁNH GIÁ HẠCH DI CĂN TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ CÓ CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT TRIỆT CĂN